Trang TTĐT Sở Tư pháp Hà Tĩnh

Chi tiết

  • Kết quả 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
  •  
  •  

     

    Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Đây được xem là văn kiện chính trị quan trọng của Đảng định hướng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Nghị quyết đã xác định cụ thể những quan điểm chỉ đạo, đề ra các định hướng lớn và những giải pháp cơ bản cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

     

    Sở Tư phápđã tổ chức triển khai học tập, quán triệt sâu rộng trong đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức… Việc tuyên truyền được thực hiện theo nhiều hình thức như sao gửi, lồng ghép với chương trình họp giao ban hàng tháng, quý, in ấn tờ gấp, tờ rơi, chương trình truyền thanh, truyền hình, cổng (trang) thông tin điện tử và một số hình thức phù hợp khác.

     

    Bám sát chỉ đạo của các cơ quan cấp trên, Sở Tư pháp đã thực hiện tốt vai trò tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần tích cực trong công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhờ đó, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến căn bản và đạt được kết quả nhất định, thể hiện rõ nét trên một số kết quả sau:

     

    Thứ nhất, về xây dựng pháp luật

     

    Trong trong giai đoạn từ 2005-2019, tỉnh đã ban hành số lượng văn bản lớn khoảng 8.729 văn bản, trong đó cấp tỉnh là 746 văn bản, cấp huyện 899 văn bản và cấp xã 7.084 văn bản. Qua quá trình thẩm định, góp ý văn bản nhận thấy chất lượng văn bản từng bước được nâng cao, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của địa phương, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Trong quá trình xây dựng văn bản QPPL, các cơ quan tham mưu đã thực hiện tốt quy trình ban hành văn bản, đặc biệt là  công tác tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan tổ chức, đối tượng chịu tác động của văn bản cũng như việc thẩm định, thẩm tra văn bản trước khi ban hành. Kết quả thể hiệntrước năm 2011 có khoảng 80% dự thảo văn bản QPPL ở cấp tỉnh được thẩm định, góp ý và 60% dự thảo văn bản QPPL ở cấp huyện được thẩm định, góp ý thì đến nay 100% văn bản QPPL của cấp tỉnh đã đượcSởthẩm định, góp ý. Việc thực hiện tốt quy trình ban hành văn bản QPPL đã góp phần nâng cao chất lượng văn bản, tính khả thi, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch của hệ thống pháp luật địa phương.

     

    Công tác tự kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trong toàn tỉnh đã được tiến hành thường xuyên, kịp thời, đồng bộ và có chất lượng. Với sự tham mưu tích cực, có hiệu quảcủa Sở Tư pháp, ở cấp tỉnh đã tiến hành gần 100 đợt rà soát, tự kiểm tra văn bản theo lĩnh vực và theo thời gian với tổng số là 14.784 lượt văn bản. Qua đó đã phát hiện 208 văn bản cần sửa đổi về nội dung, 979 văn bản có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày và 579 văn bản hết hiệu lực thi hành.

     

    Bên cạnh đó, cũng nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật của địa phương, tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức và người dân trong việc tra cứu, áp dụng, Sở đã chú trọng đến công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL của cả 3 cấp kể từ ngày tái lập tỉnh (năm 1991) đến nay. Cụ thể, đã tiến hành rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành theo 5 giai đoạn. Qua kết quả rà soát, hệ thống hóa đã được sắp xếp toàn bộ các văn bản đang còn hiệu lực theo từng lĩnh vực và in thành các tập Hệ thống văn bản QPPL của UBND tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 1991 - 2018 còn hiệu lực phát miễn phí đến tận xã, phường, thị trấn.

     

    Thứ hai, về tổ chức thi hành pháp luật

     

    Sở đã tham mưu UBND tỉnh kịp thời ban hành văn bản chỉ đạo, kế hoạch triển khai thi hành pháp luật, nhất là các văn bản luật mới được Quốc hội thông qua; kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, trong đó xác định lĩnh vực trọng tâm để theo dõi; thành lập các đoàn kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật; xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra việc thi hành pháp luật trong cơ quan, tổ chức, cá nhân...

     

    Qua công tác theo dõi thi hành pháp luật nhận thấy, bên cạnh việc chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật thì tình trạng vi phạm pháp luật vẫn còn diễn ra, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà trong đó phải kể đến yếu tố chủ quan của mỗi cá nhân, tổ chức. Theo kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, tình trạng vi phạm pháp luật xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống như: kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, văn hoá,...với những thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, xảo quyệt. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, các loại vi phạm tăng nhanh, mạnh và đa dạng về hành vi, thủ đoạn. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh trong các quy định của pháp luật, các sở, ban, ngành cũng đã sử dụng nhiều biện pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm và tổ chức xử lý vi phạm pháp luật nghiêm túc, công khai, minh bạch. Kể từ khi có Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đến nay toàn tỉnh có 409.501 vụ vi phạm hành chính, trong đó đã xử phạt 396.703  vụ với 410.967 đối tượng bị xử phạt; các cơ quan, đơn vị đã ban hành 410.674 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có 397.164 quyết định đã được thi hành xong với tổng số tiền phạt thu được là 471.238.961.000 đồng, số tiền thu được từ bán, thanh lý tang vật, phương tiện bị tịch thu là 43.385.351.000 đồng.

     

    Thứ ba, về tăng cường năng lực của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật

     

     Đãthực hiện kiện toàn cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, các đơn vị trực thuộc Sở. Bên cạnh đó thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho cho đội ngũ công chức học tập nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Cơ sở vật chất đảm bảo phục vụ yêu cầu công việc như: trú sở làm việc, bàn, ghế, máy tính…được trang bị khá đầy đủ. Hàng năm đều bố trí kinh phí phù hợp cho các công tác tuyên truyền, phổ biến, xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

     

    Thứ tư, về đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực làm công tác pháp luật

     

    Được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã thực hiện phối hợp với Trường Đại học Luật Hà Nội mở lớp trung cấp luật khóa 3 gồm 71 học viên là cán bộ nguồn cho chức danh chuyên trách Tư pháp xã, đã tốt nghiệp năm 2006 và lớp tại chức đại học Luật khoá 3, với 85 học viên, chủ yếu là đội ngũ cán bộ chuyên trách tư pháp xã đã có trình độ trung cấp luật và cán bộ của một số cơ quan làm công tác pháp luật trên địa bàn, đã tốt nghiệp vào năm 2011. Bên cạnh đó, các cán bộ làm công tác pháp luật cũng đã tham gia các chương trình  đào tạ thạc sỹ tại các trường như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Vinh… Đây sẽ là nguồn cán bộ bổ sung vào đội ngũ có trình độ pháp luật cao, góp phần đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của công tác pháp luật trong tình hình mới.

     

    Bên cạnh việc phối hợp mở các lớp đại học, trung cấp luật tại chức thì việc tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ pháp luật các cấp cũng được chú trọng. Mỗi năm, Sở Tư pháp tổ chức từ 7 - 10 lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế hoặc cử cán bộ làm công tác pháp chế tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do Bộ tổ chức. Qua các lớp tập huấn đã cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho các đối tượng và giúp các cơ quan ban ngành, cơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai nhiệm vụ. Qua số liệu báo cáo cho thấy số lượng chất lượng cán bộ của các cơ quan cấp tỉnh về cơ bản đáp ứng so với yêu cầu nhiệm vụ được giao.

     

    Thứ năm, về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật

     

    Với đặc thù là tỉnh biên giới thuận lợi cho giao lưu và hợp tác quốc tế, trong thời gian qua, cấp ủy các địa phương và các cơ quan tư pháp trong tỉnh đã chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác quốc tế nói chung và trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật nói riêng. Thực hiện các Chương trình, Kế hoạch để triển khai công tác đối ngoạicủa UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật như:Giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới tỉnh Hà Tĩnh và Bolykhămxay, Khăm Muộn; ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2017-2002với Sở Tư pháp tỉnh Bôlykhămxay, tỉnh Khăm Muộn với các nội dungvề trao đổi học tập kinh nghiệm về việc tổ chức thực hiện giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh, hợp tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp...; Thực hiện dự án “Hỗ trợ địa phương trách nhiệm giải trình, đáp ứng được tại tỉnh Hà Tĩnh”.

     

    Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Tính dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của văn bản QPPL chưa cao, dẫn đến hiệu lực pháp lýcủa các văn bản ngắn, phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung để phù hợp; Việc thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL có lúc, có nơi chưa thật nghiêm, đặc biệt là việc tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản còn đang hạn chế; Chưa huy động nhiều chuyên gia pháp luật trong công tác soạn thảo văn bản QPPL. Ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người dân còn chưa cao dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là trong lĩnh vực về an toàn giao thông và tệ nạn xã hội. Đồng thời công tác kiểm tra, thanh tra tình hình thi hành pháp luật đã được quy định, nhưng chế tài xử lý đối với các sai phạm sau kiểm tra, thanh tra chưa được quy định cụ thể, cơ quan được giao chủ trì trong hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu chỉ thông qua kiến nghị, đề xuất mà không được giao quyền xử lý, vì vậy hiệu quả đạt được chưa cao; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong xây dựng văn bản QPPL có lúc chưa chặt chẽ…

     

    Các tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên, trong đó chủ yếu do nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về mục đích, yêu cầu và trách nhiệm triển khai thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chưa thực sự đầy đủ, nhất quán; chưa thể hiện quyết tâm cao trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại cơ quan, tổ chức mìnhnên tinh thần phối hợp chưa cao, chưa chặt chẽ. Đội ngũ chuyên gia đầu ngành để thực hiện việc tham mưu xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật của tỉnh còn mỏng; điều kiện biên chế còn thiếu, khối lượng công việc lại nhiều nên phần lớn các sở ngành chưa bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách mà vẫn thực hiện theo chế độ kiêm nhiệm. Đối với Luật Ban hành văn bản QPPL mặc dù đã đã được sửa đổi, bổ sung thay thế, tuy nhiên vẫn còn những khiếm khuyết nhất định.

     

    Để nâng cao hiệu quả xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luậttrên địa bàn tỉnh,xin đưa ramột số giải pháp như:

     

    Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác xây dựng và triểnkhai thực hiện văn bản QPPL.

     

    Hai là, tiếp đổi mới hình thức tuyên truyền PBGDPL, đẩy mạnh tổ chức hội nghị trao đổi đa chiều, tổ chức các Hội thi, cuộc thi. Mở nhiều chuyên mục mang tính chuyên sâu trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống loa truyền thanh tại cơ sở. Đẩy mạnh tuyên truyền PBGDPL cho mọi đối tượng, chú trọng hướng về cơ sở, các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo...; kết hợp tuyên truyền pháp luật với thi hành pháp luật, đấu tranh, phê phán những tiêu cực vi phạm pháp luật, tham nhũng đang diễn ra trong đời sống xã hội

     

    Ba là, nâng cao chất lượng của quá trình soạn thảovăn bản QPPL, quan tâm đặc biệt chất lượng và tiến độ của công tác thẩm định, góp ý kiến tham gia đối với các dự thảo VBQPPL theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là đối với nội dung có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành, địa phương. Chú trọng đổi mới phương thức tổ chức lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản. Đồng thời cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò của các tổ chức, cá nhân đối với trách nhiệm của họ trong việc tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn bản QPPL.

     

    Bốn là, tăng cường, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật phải gắn liền với việc bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ này.

     

    Năm là, tăng cường quan hệ phối hợp trong quá trình thực hiện xây dựng văn bản QPPL và thi hành pháp luật. Phối hợp với các Sở, ngành nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, đảm bảo phù hợp với Hiến pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương mới ban hành.

     

    Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL của tỉnh, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh trong thời gian tới.

     

    Thanh Hoa


Thông báo