Trang TTĐT Sở Tư pháp Hà Tĩnh

Chi tiết

  • Phân biệt vi bằng và văn bản công chứng
  • Vi bằng và văn bản công chứng đều có giá trị chứng cứ. Vì vậy, nhiều người có sự nhầm lẫn, cho rằng vi bằng có giá trị như văn bản công chứng nên lập vi bằng để đảm bảo cho việc xác lập các giao dịch. Thực tế, đã có trường hợp lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân, nhằm che giấu các giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật, các đối tượng bán nhà đất dùng hình thức vi bằng ghi nhận việc giao nhận tiền, giấy tờ nhà đất giữa các bên, khiến người dân nhầm lẫn việc mua bán nhà đất qua vi bằng có giá trị như hợp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng đất được công chứng. Điều này tiềm ẩn rủi ro cao, dẫn đến nguy cơ phát sinh tranh chấp, gây thiệt hại cho người có tài sản. Để tránh trường hợp này xảy ra, các tổ chức, cá nhân cần phân biệt rõ vi bằng và văn bản công chứng.
  •  

    Về khái niệm

     

    Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác.

     

    Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định. Theo đó, công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngước lạimà theo quy định phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

     

    Về chủ thể thực hiện và cơ sở pháp lý điều chỉnh

     

    Vi bằng do Thừa phát lại của Văn phòng Thừa phát lại xác lập theo quy định tại Nghị địnhsố 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí MinhNghị địnhsố135/2013/NĐ-CPngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

     

     Vănbản công chứng do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

     

    Về nội dung văn bản

     

    Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi khách quan mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến. Thừa phát lại không được lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng, thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp. Còn văn bản công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính chính xác, hợp pháp, không tráiđạo đức xã hội của bản dịch theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp luật định.

     

    Về phạmvi thực hiện, Thừa phát lại được lập vi bằngghi nhậncác sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn cấp tỉnhnơi đặt Văn phòng Thừa phát lại.

     

    Trong công chứng, Luật Công chứng không quy định giới hạn phạm vi đơn vị hành chính đối với công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản. Đối với tài sản là bất động sản, công chứng viên chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi cấp tỉnhnơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản.

     

    Vềthủ tục thực hiện,vibằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp. Văn bản công chứngkhông phải thực hiện thủ tục này vàcó hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký,đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng./.

     

     Hạnh Ngân


Thông báo