Trang TTĐT Sở Tư pháp Hà Tĩnh

Chuyên mục

Hỏi đáp

  • Tên:
    Giao dịch vay tiền còn lưu trên Facebook, có được coi là bằng chứng?
  • Nội dung:

    Hỏi:

     

    Tôi cho bạn vay 50 triệu đồng nhưng hai năm nay đòi mãi không được trả. Người đó còn "lật mặt" nói không hề vay mượn gì. Khi cho vay, tôi không viết giấy tờ gì nên giờ chỉ còn lưu lại tin nhắn trên Facebook. Đó có thể được coi là bằng chứng khi đưa ra tòa không?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nguồn chứng cứ bao gồm:

     

    1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

     

    2. Vật chứng.

     

    3. Lời khai của đương sự.

     

    4. Lời khai của người làm chứng.

     

    5. Kết luận giám định.

     

    6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

     

    7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

     

    8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

     

    9. Văn bản công chứng, chứng thực.

     

    10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

     

    Đối với chứng cứ là dữ liệu điện tử, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

     

    1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

     

    2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

     

    3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

     

    Như vậy, những tin nhắn trao đổi qua Facebook có thể được xem là một nguồn chứng cứ và dùng làm chứng cứ chứng minh tại Tòa án. Ngoài ra, để đảm bảo tính pháp lý của chứng cứ này, bạn có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng.

     

    Trong trường hợp cho vay tiền thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng thì có thể sử dụng giấy chuyển tiền hay sao kê tài khoản ngân hàng, xác nhận của ngân hàng để làm chứng cứ đòi lại tiền vay./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Ném chất thải vào nhà con nợ sẽ bị phạt thế nào?
  • Nội dung:

    Hỏi:

     

    Chị gái tôi chưa trả 500 triệu đồng nên ngày ngày bị chủ nợ cho người đến dọa nạt, ném chất thải, mắm tôm vào nhà chị.Việc này gây ảnh hưởng tới tâm lý và cuộc sống của các thành viên trong gia đình. Chúng tôi có thể kiện không?

     

    Trả lời:

     

    Ném chất thải, chất bẩn vào nhà người khác là hành vi vi phạm pháp luật, theo điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình.

     

    Theo đó, người có hành vi "đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác" sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng.

     

    Theo nội dung bạn hỏi, nếu các nhóm người này chỉ thực hiện hành vi với mục đích làm bẩn nơi ở, gây áp lực để đòi tiền, bạn có thể báo cơ quan chức năng xem xét xử lý vi phạm hành chính.

     

    Tuy nhiên ở đây không loại trừ hành vi ném chất thải, chất bẩn này với động cơ mục đích gây ức chế cho chị của bạn, để phải bỏ đi nơi khác, không dám sinh hoạt tại nơi ở của mình.

     

    Nếu chị của bạn đang rơi vào hoàn cảnh này, người gây ra việc đó có thể bị xem xét dấu hiệu của tội Xâm phạm chỗ ở của công dân (theo điều 158 Bộ luật Hình sự 2015) với hành vi chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Quảng cáo sai sự thật có bị kết tội lừa dối khách hàng?
  • Nội dung:

    Hỏi:

    Chủ đầu tư quảng cáo chung cư có nhiều tiện ích song khi tôi nhận nhà thì không phải vậy. Xin hỏi, tôi có thể đề nghị cơ quan công an xử lý hình sự bên bán hàng về tội Lừa dối khách hàng được không?

     

    Trả lời:

     

    Tội Lừa dối khách hàng đã được quy định trong Bộ luật hình sự 19851999 và sau này là điều 198 Bộ luật Hình sự 2015. Khi có căn cứ chứng minh hành vi của người bán hàng đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can mà không đòi hỏi phải có đơn yêu cầu của bị hại (người mua hàng).

     

    Chủ thể của tội Lừa dối khách hàng là người bán, người cung cấp dịch vụ có dùng thủ đoạn gian dối nhằm thu lợi bất chính. Dù biết gây thiệt hại cho người mua, họ vẫn cố tình thực hiện.

     

    Lừa dối khách hàng xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên trên thực tế, rất ít trường hợp bị xử phạt hành chính hoặc khởi tố về tội danh này. Hành vi gian dối của người bán thông thường là gây thiệt hại nhỏ, người bị hại lại không tố giác nên cơ quan điều tra không biết để xử lý. Trong một số trường hợp, người bán có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị sẽ truy cứu về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chứ không phải là Lừa dối khách hàng.

     

    Tội Lừa dối khách hàng được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 như sau: Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm:

     

    - Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

     

    - Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đến dưới 50.000.000 đồng.

     

    Phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, thu lợi bất chính 50 triệu đồng trở lên sẽ bị phạt tiền từ 100.000.000 đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ một đến 5 năm.

     

    Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đến 100.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến 5 năm./.

     

              Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Cách nào tránh rủi ro khi mua đất đang thế chấp ngân hàng?
  • Nội dung:

    Hỏi:

     

    Vì chỗ thân tình lâu năm, bạn bán mảnh đất 100 m2 đang thế chấp ngân hàng cho tôi chỉ bằng một nửa giá thị trường. Tuy nhiên sổ đỏ của mảnh đất này đang bị thế chấp ở ngân hàng để vay một số tiền lớn. Vậy xin hỏi, thủ tục để mua bán đất đang thế chấp tại ngân hàng như thế nào? Làm thế nào để bên mua không chịu rủi ro?

     

    Trả lời:

     

    Theo khoản 5 điều 321 Bộ luật Dân sự 2015, bên thế chấp có quyền: Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.

     

    Như vậy, với mảnh đất bạn định nhận chuyển nhượng đang được thế chấp tại ngân hàng, nếu được sự đồng ý của ngân hàng, hai bên sẽ được thực hiện việc chuyển nhượng này. Việc này do thỏa thuận giữa các bên, không trái pháp luật.

     

    Bên chuyển nhượng cùng với bên nhận chuyển nhượng và ngân hàng nhận thế chấp tài sản có thể lập thỏa thuận ba bên liên quan việc thanh toán tiền chuyển nhượng giữa bên bán và bên mua cũng như việc thanh toán tiền nợ vay của bên chuyển nhượng đối với ngân hàng. Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và được công chứng theo quy định của pháp luật.

     

    Bạn sẽ nộp cho ngân hàng một khoản tiền bằng với số tiền (gốc và lãi) để thanh toán khoản nợ của bên bán. Ngân hàng sẽ thực hiện thủ tục xóa thế chấp và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên bán. Hai bên sẽ thỏa thuận việc thanh toán khoản tiền chuyển nhượng còn lại, sau khi đã trừ đi số tiền đã trả nợ cho ngân hàng.

     

    Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng cùng với bên nhận chuyển nhượng phải ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng công chứng và làm thủ tục sang tên tại Phòng đăng ký đất đai cấp huyện hoặc Văn phòng đăng ký đất đai – thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; nộp thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ nhà đất tại Chi cục thuế cấp huyện nơi có bất động sản.

     

    Nếu hồ sơ hoàn thiện, đúng và đầy đủ, bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới mang tên bạn (hoặc ghi tên bạn vào trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục thay đổi người sử dụng đất).

     

    Để phòng ngừa rủi ro khi nhận chuyển nhượng đất đang thế chấp tại ngân hàng thì người bán cần phải tìm hiểu kỹ về miếng đất mình mua, lập thỏa thuận ba bên, chỉ nhận chuyển nhượng khi được sự đồng ý của Ngân hàng (nơi đang nhận thế chấp) và khoản tiền nhận chuyển nhượng phải lớn hơn hoặc bằng với khoản tiền (cả gốc và lãi) bên chuyển nhượng đang nợ Ngân hàng; thực hiện việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng tại Phòng công chứng; khi thực hiện các giao dịch nộp tiền cần lưu giữ các giấy tờ giao dịch./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Chồng vay tiền rồi bỏ đi, vợ có phải trả thay?
  • Nội dung:

     

    Hỏi:

     

    Chồng tôi bỗng nhiên bỏ đi không nhắn nhủ gì, cắt mọi liên lạc. Sau đó, một nhóm người tới nhà đòi nợ.

     

    Họ đưa ra một tờ giấy viết tay với nội dung chồng tôi vay 300 trăm triệu đồng với lãi cao. Họ yêu cầu tôi phải đứng ra trả số tiền này.

     

    Tôi không đồng ý thì nhóm người đó nói rằng trong vòng một tuần nếu không lo đủ tiền, họ sẽ đến lấy hết đồ đạc trong nhà, thậm chí đe doạ xa xôi việc có thể gây hại cho các con tôi.

     

    Tôi biết chồng mình thời gian trước có gặp một số khó khăn trong chuyện làm ăn nhưng anh không chia sẻ cụ thể. Tôi không rõ có đúng chồng tôi đã ký vào tờ giấy kia hay không. Tôi cũng chẳng thể lo nổi số tiền quá lớn để trả cho những người đòi nợ. Tôi phải làm gì để bảo vệ tài sản cũng như con cái của mình? Tôi có nên báo cho chính quyền địa phương biết hoặc phải nhờ cậy tới cơ quan nào giúp đỡ để giảm thiểu rủi ro đến với gia đình mình?

     

    Trả lời:

     

    Theo điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau :

     

    1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

     

    2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

     

    3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

     

    4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

     

    5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

     

    6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

     

    Với quy định nói trên, nếu chồng bạn vay tiền mà không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mỗi gia đình) và cũng không thuộc một trong các trường hợp quy định nêu trên thì bạn không có nghĩa vụ phải cùng chồng hoặc thay chồng trả tiền cho bên chủ nợ.

     

    Hơn nữa, hoạt động vay nợ tín dụng đen thường với mức lãi suất rất cao, gấp nhiều lần mức trần lãi suất mà pháp luật quy định đối với hoạt động vay nợ nên các giao dịch vay nợ này không được pháp luật công nhận (bị vô hiệu). Theo đó, bên vay không có nghĩa vụ phải trả phần lãi mà hai bên đã thỏa thuận.

     

    Trường hợp chủ nợ gây áp lực, đe dọa để buộc gia đình bạn phải trả nợ thì bạn có thể làm một số việc sau để bảo vệ gia đình mình:

     

    - Làm ngay đơn trình báo, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chủ nợ gửi cơ quan công an nơi bạn cư trú để có biện pháp ngăn chặn. Hành vi vi phạm pháp luật của chủ nợ có thể là: cướp, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, đe doa giết người, làm nhục người khác, hủy hoại tài sản...

     

    - Không cam kết hay ký bất kỳ giấy tờ gì do chủ nợ đưa ra.

     

    - Nếu các con bạn còn nhỏ thì có thể thể cho các cháu tạm lánh về nhà người thân trong khoảng thời gian nhất định.

     

    - Lắp camera an ninh ở những vị trí có thể bị tiếp cận, kết hợp cả camera công khai và camera bí mật.

     

    - Phổ biến kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho các thành viên trong gia đình trong các tình huống như ở nơi vắng người, di chuyển sáng sớm hoặc đêm muộn, khi có người theo dõi, đeo bám...

     

    - Ghi nhớ số điện thoại của trực ban công an xã, phường nơi bạn cư trú để liện hệ ngay khi cần.

     

    - Mạnh dạn chia sẻ việc bị siết nợ với các hộ gia đình liền kề để có sự hỗ trợ, giúp đỡ khi cần thiết.

     

    - Không cho kẻ siết nợ vào nhà, trừ trường hợp có sự tham gia của chính quyền địa phương.

     

    - Khi đối diện với những kẻ siết nợ cần giữ khoảng cách nhất định bởi chúng có thể mang theo hung khí và manh động./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ?
  • Nội dung:

    Vay nợ là giao dịch dân sự khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Một số giao dịch khác cũng có thể phát sinh nghĩa vụ trả nợ như giao dịch mượn tài sản, mua bán tài sản nhưng không trả đủ tiền khi đến hạn thanh toán.

     

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu con nợ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hai bên có thể thỏa thuận về hướng giải quyết như gia hạn, miễn, giảm lãi... Trường hợp không thương lượng được, chủ nợ có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền.

     

    Người khởi kiện có quyền yêu cầu tòa án kê biên, phong tỏa tài sản của con nợ để tránh việc tẩu tán tài sản, đảm bảo thi hành án sau này cũng như sử dụng các biện pháp khác mà pháp luật không cấm như sử dụng báo chí, truyền thông...

     

    Trên thực tế, không phải trường hợp nào bên có quyền (chủ nợ) cũng có cách hành xử phù hợp với quy định của pháp luật. Nhiều trường hợp do nhận thức hạn chế mà chủ nợ vô tình vi phạm pháp luật hoặc nhận thức được hành vi, cách thức đòi nợ là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện (chủ yếu diễn ra trong hoạt động cho vay tín dụng đen) như: đổ chất bẩn; đến khu vực nhà con nợ chửi bới hoặc có hành vi khác gây rối trật tự công cộng nhằm tạo áp lực; tự ý lấy tài sản của con nợ mang đi (siết nợ).

     

    Việc siết nợ có thể không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để lấy tài sản hoặc đã dùng vũ lực tấn công để lấy tài sản.

     

    Theo Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc hành vi siết nợ cụ thể mà việc siết nợ có thể phạm một trong các tội dưới đây:

     

    Trường hợp chủ nợ (hoặc người đại diện thông qua ủy quyền) dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công (có thể là chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) không thể chống cự được như đấm, đá, dùng hung khí khống chế nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cướp tài sản theo điều 168 Bộ luật Hình sự 2015. Mức hình phạt cao nhất đối với tội này đến tù chung thân.

     

    Trường hợp chủ nợ đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần con nợ (kéo nhiều người đến để thị uy) nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điều 170 Bộ luật Hình sự 2015. Mức hình phạt cao nhất với tội này đến 20 năm tù.

     

    Với hai hành vi trên, pháp luật đều không đòi hỏi tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bao nhiêu trở lên thì mới phạm tội. Do vậy, về nguyên tắc có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc hoặc đe dọa sẽ dùng vũ lực... để chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành. Việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là căn cứ định tội đối với hành vi phạm tội.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Bị vu khống, làm nhục trên mạng xã hội, nạn nhân nên im lặng hay cần làm gì?
  • Nội dung:

     

    Mạng xã hội đã mang đến nhiều tiện ích cho toàn xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng rất nhiều điều phải nói như đang có quá nhiều thông tin không phù hợp với trẻ em, trái thuần phong mỹ tục như bạo lực, tình dục và nhiều người lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi vu khống, làm nhục người khác. Vậy nếu trong trường hợp bị vu khống, làm nhục trên mạng, nạn nhân cần phải làm gì?

     

    Trước tiên, cần phân biệt rõ khái niệm thế nào là vu khống và bị làm nhục: Vu khống là: Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Làm nhục là: Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi xúc phạm rất đa dạng phổ biến là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm thực hiện, được thực hiện khiến nạn nhận cảm thấy nhục nhã, tổn thương nặng nề về danh dự, nhân phẩm. Để đánh giá hậu quả người bị xúc phạm có cảm thấy nhục nhã hay không cần dựa trên các yếu tố loại hành vi, mức độ xúc phạm của hành vi; ý thức về việc bị xúc phạm của nạn nhân với hành vi; Dư luận xã hội về hành vi, tác động tâm lý của nạn nhân bị xúc phạm.

     

    Có những cách sau để nạn nhân của sự vu khống, xúc phạm, làm nhục nhờ cơ quan có thẩm quyền can thiệp

     

     

    Cách thứ nhất: Đề nghị cơ quan công an cấp xã, cơ quan công an cấp huyện xem xét xử lý hành vi làm nhục, xúc phạm theo khoản 3 điều 66  Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điệnnhư sau:

     

    "Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

     

    Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;".

     

    Cách thứ hai: Đề nghị, thông báo cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện nơi người thực hiện hành vi xem xét xử lý hành vi làm nhục người khác hoặc vu khống.

     

    Điều 155. Tội làm nhục người khác Có thể bị phạt tù đến 05 năm

     

    Điều 156. Tội vu khống Có thể bị phạt tù lên đến 07 năm.

     

    Cách thứ ba: Khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại danh dự nhân phẩm do hành vi vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm gây ra cho mình.

     

    Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

     

    Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."

     

    Bạn có thể lựa chọn các cách thức trên đây để bảo vệ mình trước hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm, làm nhục, vu khống của người khác. Cả ba trường hợp trên nhất thiết bạn phải xuất trình bằng chứng gửi cho cơ quan có thẩm quyền để cơ quan này đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Có được trả xe máy và đòi lại tiền khi mua trả góp?
  • Nội dung:

     

    Câu hỏi:

     

    Tôi mua trả góp xe máy, người bán nói đó là xe của Hàn Quốc nhưng sau khi dùng tôi phát hiện không phải vậy.Bây giờ tôi có thể trả xe và đòi lại số tiền đã trả được không? Tôi có bằng chứng về việc đây là xe có nguồn gốc từ Trung Quốc được lắp ráp ở Việt Nam.

     

    Trả lời:

     

    Theo điều 127 Bộ luật Dân sự 2015, khi một bên tham gia giao dịch dân sự bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

     

    Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

     

    Trong trường hợp của bạn, người bán đã có hành vi cố ý lừa dối bạn về đối tượng của giao dịch là chiếc xe của Hàn Quốc nhưng thực chất đó là hàng Trung Quốc. Vì vậy, giao dịch này vô hiệu do bị lừa dối về tính chất của đối tượng giao dịch.

     

    Bên cạnh đó, điều 131 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

     

    1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

     

    2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

     

    Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả....

     

    Như vậy bạn có thể trả lại xe và yêu cầu người bán trả lại tiền cho bạn. Nếu người bán không đồng ý, bạn có quyền khởi kiện, yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu để được nhận lại tiền./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Có thể đăng ký lại khai sinh tại địa phương khác?
  • Nội dung:

     

    Câu hỏi:

     

    Em gái của ông Hoàng Ngọc Quý kết hôn, đăng ký khai sinh cho con tại tỉnh Lạng Sơn. Nay gia đình chuyển về tỉnh Bắc Kạn, khi thực hiện các thủ tục hành chính lại phải đến nơi đăng ký khai sinh ban đầu của con để thực hiện. Ông Quý hỏi, em gái ông muốn đăng ký lại khai sinh cho con tại tỉnh Bắc Kạn có được không?

     

    Trả lời:

     

    Hiện nay, một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã như xác nhận, chứng thực… được thực hiện ở địa phương nơi cư trú, đăng ký hộ khẩu thường trú. Trường hợp em gái của ông Hoàng Ngọc Quý trước đây kết hôn, đăng ký khai sinh cho con tại tỉnh Lạng Sơn, nay gia đình chuyển về Bắc Kạn cư trú, khi thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã có liên quan đến con thì đến UBND cấp xã nơi cư trú, đăng ký thường trú, không phải đến nơi đăng ký khai sinh ban đầu của con tại tỉnh Lạng Sơn để thực hiện (trừ trường hợp mất bản chính Giấy khai sinh, yêu cầu cấp bản sao từ Sổ đăng ký khai sinh tại nơi đăng ký khai sinh ban đầu).

     

    Việc đăng ký lại khai sinh

     

    Theo quy định tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ, điều kiện đăng ký lại khai sinh như sau: Việc khai sinh đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 1/1/2016 nhưng Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh đều bị mất thì được đăng ký lại.

     

    Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Việc đăng ký lại khai sinh chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

     

    Thẩm quyền và hồ sơ đăng ký lại khai sinh

     

    Thẩm quyền đăng ký lại khai sinh là UBND xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc UBND cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh.

     

    Theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP được hướng dẫn tại Điều 9 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp, hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm các giấy tờ sau đây:

     

    Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

     

    Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó, như: Bản sao Giấy khai sinh (bản sao được công chứng, chứng thực hợp lệ, bản sao được cấp từ Sổ đăng ký khai sinh).

     

    Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có bản sao Giấy khai sinh hợp lệ, để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh cần có các giấy tờ sau: Giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu; Sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; bằng tốt nghiệp, giấy chứng nhận, chứng chỉ, học bạ, hồ sơ học tập do cơ quan đào tạo, quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận; giấy tờ khác có thông tin về họ, chữ đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân; giấy tờ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

     

    Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và phải cam đoan đã nộp đủ các giấy tờ mình có. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh cam đoan không đúng sự thật, cố ý chỉ nộp bản sao giấy tờ có lợi để đăng ký lại khai sinh thì việc đăng ký lại khai sinh không có giá trị pháp lý.

     

    Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ nêu trên, còn phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

     

    Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh.

     

    Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại UBND cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND có văn bản đề nghị UBND nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

     

    Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, UBND nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

     

    Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký khai sinh, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại khai sinh.

     

    Trường hợp người yêu cầu có bản sao Giấy khai sinh trước đây được cấp hợp lệ thì nội dung đăng ký khai sinh được ghi theo nội dung bản sao Giấy khai sinh; phần khai về cha, mẹ được ghi theo thời điểm đăng ký lại khai sinh.

     

    Trường hợp người yêu cầu không có bản sao Giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Nếu hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên; riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì nội dung khai sinh được xác định theo văn bản của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

     

    Cụ thể vấn đề ông Hoàng Ngọc Quý hỏi, khi em gái ông Quý thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã như xác nhận, chứng thực… cho con thì đến UBND cấp xã nơi cư trú, đăng ký thường trú tại tỉnh Bắc Kạn, không phải đến nơi đăng ký khai sinh ban đầu của con tại tỉnh Lạng Sơn để thực hiện (trừ trường hợp mất bản chính Giấy khai sinh, yêu cầu cấp bản sao từ Sổ đăng ký khai sinh tại nơi đăng ký khai sinh ban đầu).

     

    Trường hợp mất, không còn lưu giữ bản chính Giấy khai sinh của con, thì em gái ông Quý có thể yêu cầu UBND xã nơi đã đăng ký khai sinh cho con trước đây (ở tỉnh Lạng Sơn) hoặc UBND cấp xã nơi thường trú hiện nay (ở tỉnh Bắc Kạn) thực hiện đăng ký lại khai sinh./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)

  • Tên:
    Con vay tiền, chủ nợ có quyền ép bố mẹ phải trả thay?
  • Nội dung:

     

    Câu hỏi:

     

    Tôi cho vay 100 triệu đồng, đã quá hạn từ lâu nhưng không được trả và anh ta có dấu hiệu lẩn tránh.Việc vay mượn có giấy đầy đủ. Tôi có quyền ép bố mẹ của bạn đó trả nợ thay không vì anh ta đang cùng ở với họ?

     

    Trả lời:

     

    Theo điều 21 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó thực hiện.

     

    Người từ đủ 6 đến chưa đủ 15 tuổi khi thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

     

    Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Trong trường hợp này, bạn không có quyền ép bố mẹ người vay hoàn trả số tiền đó, trừ khi họ tự nguyện.

     

    Trường hợp người vay đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì anh ta phải chịu trách nhiệm với các hành vi của mình. Người thân không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cũng như không phải bồi thường thiệt hại do hành vi của anh ta gây ra.

     

    Chủ nợ cũng không thể ép người thân của họ trả nợ thay. Trên thực tế, nhiều trường hợp ép trả thay đã dẫn đến một số hành vi vi phạm pháp luật như: xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng, cưỡng đoạt tài sản./.

     

    Thành Trung (Tổng hợp)


Thông báo