Một số giải pháp về chính sách, chế độ, ưu đãi đối với Trợ giúp viên pháp lý trong xây dựng nghị định quy định chi tiết Luật Trợ giúp pháp lý và các biện pháp bảo đảm thi hành

Sau khi thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và Nghị định số 144/2017/NĐ-CP, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Hà Tĩnh đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả và từng bước đi vào chiều sâu, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, nhất là các nhóm yếu thế trong xã hội.

Trong hơn 08 năm qua, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức thực hiện 1.048 cuộc truyền thông về trợ giúp pháp lý; thực hiện trợ giúp pháp lý 5.403 vụ việc, trong đó có 3.632 vụ việc tư vấn pháp luật, 1.771 vụ việc tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng. Nhiều vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện kịp thời, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, qua đó tạo được sự ghi nhận, tin tưởng của người dân và các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn một số vướng mắc, bật cập về các chế độ đối với Trợ giúp viên pháp lý, nâng hạng Trợ giúp viên pháp lý, thủ tục thanh toán hồ sơ, quy định chuyển đổi nghề nghiệp.

Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã được Quốc hội thông qua, trọng tâm là mở rộng đáng kể diện người được trợ giúp pháp lý. Việc mở rộng đối tượng tất yếu làm gia tăng khối lượng và yêu cầu chất lượng công việc, trong khi chế độ, chính sách đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý vẫn còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Do vậy, việc hoàn thiện chính sách, chế độ, ưu đãi đối với Trợ giúp viên pháp lý ngay trong quá trình xây dựng Nghị định là điều kiện tiên quyết để bảo đảm Luật được thi hành thực chất, hiệu quả.

Tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương, với định hướng trả lương theo vị trí việc làm, theo tính chất, mức độ phức tạp của công việc và có chính sách ưu đãi phù hợp đối với ngành nghề đặc thù. Trợ giúp viên pháp lý là một nghề đặc thù cao. Về tiêu chuẩn, người được bổ nhiệm phải có trình độ cử nhân luật, đã đào tạo nghề luật sư (hoặc được miễn) và qua tập sự - tương đương chức danh luật sư. Trợ giúp viên pháp lý thường xuyên tham gia tố tụng bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo, bị hại, đương sự, với áp lực không thua kém luật sư hành nghề. Đối tượng phục vụ lại phần lớn là nhóm yếu thế - người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, nạn nhân mua bán người, nạn nhân bạo lực giới, đòi hỏi không chỉ chuyên môn mà cả sự tận tâm, kiên nhẫn và tinh thần trách nhiệm xã hội sâu sắc. Do vậy, Trợ giúp viên pháp lý hoàn toàn xứng đáng được hưởng chế độ, chính sách tương xứng với các chức danh tư pháp cùng tính chất.

Chế độ, chính sách đối với Trợ giúp viên pháp lý hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Nghị định số 144/2017/NĐ-CP, các thông tư của Bộ Tư pháp cùng các quy định về tiền lương, phụ cấp đối với viên chức. Qua thực tiễn cho thấy, chế độ, chính sách đối với trợ giúp viên pháp lý vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập:

1. Chế độ, phụ cấp, tiền lương chưa tương xứng với tính chất, đặc thù công việc

Theo quy định hiện hành, Trợ giúp viên pháp lý ngoài lương chỉ được hưởng thêm phụ cấp trách nhiệm theo nghề ở mức 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Trong khi đó, các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, điều tra viên có tính chất công việc tương đương nhưng các chức danh tư pháp này được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề lên đến 30%, cao hơn trợ giúp viên 5%, một số trường hợp đặc thù khác còn được hưởng mức cao hơn. Như vậy, tính chất công việc giống nhau, cùng tham gia thực hiện các nhiệm vụ tương đương nhau, và thời gian tiếp xúc thực hiện cho các diện đối tượng yếu thế nhiều hơn nhưng Trợ giúp viên pháp lý lại hưởng mức thấp hơn về chế độ so với các chức danh cùng thực hiện tố tụng.

Trợ giúp viên pháp lý thực hiện khối lượng công việc lớn; cường độ và áp lực cao do thường xuyên tham gia tố tụng, làm việc ngoài giờ, nghiên cứu hồ sơ phức tạp; yêu cầu chuyên môn sâu, tương đương luật sư; trách nhiệm pháp lý và rủi ro nghề nghiệp lớn khi bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trước tòa nhưng chỉ bằng mức lương của 1 công chức công tác cùng thời gian và chỉ ở mức trung bình thấp so với mặt bằng các chức danh tư pháp tương đương.

Do mức lương chưa tương xứng nên không ít Trợ giúp viên pháp lý lâu năm xin chuyển sang vị trí có thu nhập tốt hơn hoặc ra hành nghề luật sư tự do, nơi cùng một vụ việc có thể đem lại thù lao cao gấp nhiều lần. Hệ quả trực tiếp là tình trạng “chảy máu” nguồn nhân lực. Đây là hệ lụy, Nhà nước bỏ thời gian đào tạo, còn khu vực tư lại hưởng thành quả; địa phương vừa mất người giỏi, vừa phải bắt đầu lại quy trình tuyển dụng, đào tạo từ đầu, ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định và chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Đặc biệt, tại các chi nhánh địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, nơi nhu cầu trợ giúp pháp lý rất lớn nhưng điều kiện làm việc khó khăn, chưa có chính sách thu hút, đãi ngộ đủ mạnh, dẫn đến tình trạng vừa khó tuyển dụng, vừa khó giữ chân.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là tham gia tố tụng các vụ án hình sự, dân sự phức tạp hoặc các vụ việc liên quan đến khiếu kiện kéo dài, Trợ giúp viên pháp lý thường xuyên chịu áp lực lớn về tâm lý, trách nhiệm nghề nghiệp và nguy cơ phát sinh tranh chấp, phản ứng từ các bên liên quan. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro trong quá trình hành nghề.

2. Thời gian giữ hạng để xét nâng hạng chức danh nghề nghiệp còn dài

Quy định về thời gian giữ hạng chức danh cũ để đủ điều kiện xét thăng hạng đối với Trợ giúp viên pháp lý hiện nay còn tương đối dài, “viên chức xét thăng hạng lên chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng II phải có thời gian giữ chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng III hoặc tương đương từ đủ 09 năm cộng dồn”, “Viên chức xét thăng hạng lên chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng I phải có thời gian giữ chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng II hoặc tương đương từ đủ 06 năm cộng dồn” trong khi đặc thù hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi cường độ công việc cao, thường xuyên tham gia tố tụng, xử lý các vụ việc phức tạp và chịu áp lực lớn về chuyên môn. Thực tiễn cho thấy, nhiều Trợ giúp viên pháp lý mặc dù có năng lực, kinh nghiệm thực tiễn, số lượng vụ việc tham gia tố tụng lớn và chất lượng chuyên môn tốt nhưng vẫn phải chờ thời gian dài theo quy định mới được xét thăng hạng. Điều này phần nào ảnh hưởng đến động lực phấn đấu, tính ổn định và khả năng thu hút, giữ chân đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý.

3. Chưa có cơ chế chuyển đổi nghề nghiệp

Trên thực tế, Trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện các công việc gần như tương đồng với luật sư: tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, và đặc biệt là tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho người được TGPL tại các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan có liên quan…. Họ tích lũy kinh nghiệm hành nghề thực tế qua nhiều năm tương đương luật sư. Nhưng, theo quy định hiện hành, khi muốn chuyển sang hành nghề luật sư, họ vẫn phải trải qua thời gian tập sự hành nghề, nghĩa là gần như bắt đầu lại từ đầu. Trong khi đó, một số chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên,… lại được hưởng cơ chế miễn đào tạo; miễn, giảm thời gian tập sự khi chuyển sang làm luật sư. Sự khác biệt này tạo ra một bất hợp lý, kinh nghiệm và năng lực thực tế của Trợ giúp viên pháp lý không được pháp luật ghi nhận tương xứng.

Hệ quả là nhiều người mang tâm lý thiệt thòi, thiếu động lực gắn bó lâu dài. Thay vì xem trợ giúp pháp lý là một sự nghiệp ổn định, không ít người có xu hướng rời hệ thống sớm hoặc lựa chọn con đường khác ngay từ đầu, gây thất thoát nhân lực có kinh nghiệm và làm giảm sức hấp dẫn của nghề.

4. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế

Hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm và nhìn chung còn eo hẹp. Trong khi đó, đào tạo chuyên sâu lại là hoạt động đòi hỏi chi phí cao: cần mời được các chuyên gia, giảng viên giỏi; cần tổ chức lớp học theo quy mô nhỏ để bảo đảm chất lượng thực hành. Khi nguồn lực phải ưu tiên cho các hoạt động nghiệp vụ trực tiếp, kinh phí dành cho đào tạo thường bị thu hẹp. Hệ quả là công tác đào tạo phần lớn chỉ dừng lại ở các lớp tập huấn ngắn ngày, nặng về lý thuyết, thiếu chiều sâu và thiếu tính hệ thống.

Một hạn chế về đào tạo nữa, đó là hệ thống hiện chưa có một chế độ đào tạo nguồn Trợ giúp viên pháp lý một cách bài bản. Đây chính là việc chủ động đào tạo đội ngũ kế cận để bổ sung và thay thế cho lực lượng hiện tại trong tương lai. Đây là bài toán mang tính chiến lược và dài hạn, là vấn đề mang tính nền móng, quyết định nguồn nhân lực hoạt động xuyên suốt và hiệu quả. Một hệ thống chỉ tập trung bồi dưỡng người hiện có mà không lo tạo nguồn kế cận, về lâu dài sẽ rơi vào tình trạng cạn kiệt nhân lực.

5. Thủ tục thanh toán vụ việc rườm rà, phụ thuộc xác nhận nhiều bên

Theo Điều 15 Nghị định 144/2017/NĐ-CP, để thanh toán theo buổi làm việc, người thực hiện TGPL phải hoàn thiện hồ sơ gồm bảng kê thời gian thực tế có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi đến làm việc hoặc gặp gỡ và bảng kê chi phí kèm hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Quy trình thực tế gồm ít nhất ba tầng: tự ghi chép, xin xác nhận từ cơ quan tố tụng, nộp hồ sơ về Trung tâm duyệt chi.

Việc xin xác nhận từ cơ quan tố tụng là vướng mắc chính. Một vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn do một cơ quan khác nhau phụ trách. Người thực hiện TGPL phải xin xác nhận từ nhiều cơ quan khác nhau. Một vụ án có thể đòi hỏi 5-7 bên xác nhận trên cùng một hồ sơ, đối với vụ án phức tạp, mỗi bên có thể xác nhận 5-7 lần. Như vậy, mỗi hồ sơ có thể từ 25-40 lần xác nhận.

Khi thanh toán theo buổi, thời gian nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu, luận cứ bào chữa và các công việc hợp lý khác cũng được tính vào số buổi thanh toán. Tuy nhiên, đây là hoạt động trí tuệ diễn ra tại trụ sở đơn vị, không có bên thứ ba nào xác nhận được, tạo ra yêu cầu kê khai mang tính hình thức, vừa không kiểm soát được thực chất vừa tạo gánh nặng giấy tờ. Người thực hiện TGPL tốn công sức hoàn thiện thủ tục thanh toán không kém thực hiện vụ việc, dẫn đến tâm lý e ngại.

Trên cơ sở những hạn chế, khó khăn nêu trên, nhằm xây dựng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, chuyên nghiệp và yên tâm gắn bó với nghề, tôi xin đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể để cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình xây dựng Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

1. Nâng mức phụ cấp trách nhiệm theo nghề và bổ sung phụ cấp đặc thù

Đề nghị kiến nghị nâng mức phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với Trợ giúp viên pháp lý từ 25% lên 30% mức lương hiện hưởng, tương đương với các chức danh tư pháp cùng cấp. Cùng với đó, đề nghị nghiên cứu bổ sung phụ cấp ưu đãi đặc thù như phụ cấp thâm niên nghề cho Trợ giúp viên pháp lý.

2. Hoàn thiện cơ chế, quy trình thăng hạng

Rút ngắn thời gian, đối với viên chức xét thăng hạng lên chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng II phải có thời gian giữ chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng III hoặc tương đương từ đủ 06 năm cộng dồn; đối với viên chức xét thăng hạng lên chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng I phải có thời gian giữ chức danh trợ giúp viên pháp lý hạng II hoặc tương đương từ đủ 05 năm cộng dồn giữ để đủ điều kiện xét thăng hạng tương xứng với cường độ công việc và áp lực chuyên môn đặc thù của hoạt động này. Bổ sung cơ chế xét thăng hạng sớm đối với những Trợ giúp viên có thành tích nổi bật, bằng các tiêu chí định lượng và định tính rõ ràng như: số lượng vụ việc tham gia tố tụng, mức độ phức tạp của vụ việc, chất lượng và kết quả giải quyết, các giải thưởng hoặc ghi nhận chuyên môn. Cơ chế này giúp ghi nhận, khuyến khích và đãi ngộ xứng đáng đối với những người thực sự cống hiến, có năng lực chuyên môn nổi trội, qua đó tạo động lực phấn đấu thực chất, giữ chân đội ngũ có chất lượng và nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý.

3. Chính sách thu hút, đãi ngộ tại địa bàn khó khăn và ưu tiên người dân tộc thiểu số

Đề nghị quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đặc thù đối với Trợ giúp viên pháp lý công tác tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, như: phụ cấp thu hút, hỗ trợ nhà ở công vụ …... Đặc biệt, cần nghiên cứu chính sách ưu tiên đối với Trợ giúp viên pháp lý là người dân tộc thiểu số hoặc người biết tiếng dân tộc thiểu số, yếu tố quan trọng bảo đảm khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý thực chất cho đồng bào, vượt qua rào cản về ngôn ngữ và văn hóa.

4. Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn nghề nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Đề nghị quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm điều kiện làm việc, trang thiết bị, nhất là khi tham gia tố tụng; có cơ chế bảo vệ trợ giúp viên trước các hành vi đe dọa, cản trở, xâm phạm khi thực hiện công vụ. Đặc biệt, đề xuất nghiên cứu cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với Trợ giúp viên pháp lý, do ngân sách nhà nước bảo đảm hoặc hỗ trợ, tương tự cơ chế đã áp dụng đối với luật sư, công chứng viên. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý mà còn tạo điều kiện để Trợ giúp viên pháp lý yên tâm công tác, nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ.

5. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu gắn với tôn vinh, khen thưởng

Bố trí một khoản kinh phí riêng, ổn định và được bảo đảm hằng năm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, tránh tình trạng đào tạo bị cắt giảm hoặc chỉ mang tính hình thức, ngắn hạn khi nguồn lực khó khăn. Quy định cơ chế cập nhật kiến thức, kỹ năng định kỳ mang tính bắt buộc, tương tự như yêu cầu bồi dưỡng nghiệp vụ đối với một số chức danh nghề nghiệp khác, nhằm bảo đảm năng lực được duy trì và phát triển liên tục.

Hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện về thời gian để trợ giúp viên tham gia các khóa đào tạo nâng cao, sau đại học; hỗ trợ kinh phí đào tạo để tạo nguồn Trợ giúp viên pháp lý. Cùng với đào tạo, cần chú trọng cơ chế tôn vinh, khen thưởng kịp thời, xứng đáng đối với những trợ giúp viên có thành tích xuất sắc, qua đó bồi đắp niềm tự hào nghề nghiệp và củng cố sự gắn bó của đội ngũ với nghề.

6. Bảo đảm biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế chuyển đổi nghề nghiệp hợp lý

Trong bối cảnh khối lượng công việc tăng lên do mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, đồng thời với việc sắp xếp tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đề nghị có cơ chế bảo đảm số lượng biên chế Trợ giúp viên pháp lý phù hợp với khối lượng công việc thực tế, quy định rõ về vị trí việc làm và định mức biên chế, tránh tình trạng quá tải làm ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc và sức khỏe, đời sống của đội ngũ, nhất là ở cấp cơ sở.

Về cơ chế phát triển và chuyển đổi nghề nghiệp, đề nghị nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi Luật Luật sư theo hướng bổ sung Trợ giúp viên pháp lý vào diện được miễn đào tạo nghề, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư. Trợ giúp viên pháp lý thực chất đã thực hiện công việc tương đương luật sư, việc bắt buộc đào tạo lại từ đầu là lãng phí cả thời gian, công sức cá nhân lẫn nguồn nhân lực pháp lý của xã hội. Đồng thời để cân bằng giữa việc tạo “lối thoát danh dự” và giữ chân nhân lực, đề nghị quy định kèm theo cơ chế cam kết thời gian công tác tối thiểu đối với trường hợp được Nhà nước cử đi đào tạo dài hạn hoặc đầu tư chuyên sâu về nghiệp vụ, nhằm hạn chế nguy cơ thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao.

7. Quy định mức thù lao vụ việc theo tính chất, mức độ phức tạp của từng loại việc

Thay thế cơ chế trả theo buổi - xác nhận từ bên ngoài bằng cơ chế định mức theo tính chất vụ việc - kiểm soát bằng kết quả đầu ra. Mức thanh toán được xác định trước dựa trên mức độ phức tạp của loại vụ việc, người thực hiện TGPL không cần xin xác nhận từ cơ quan tố tụng, nhưng phải chứng minh đã thực hiện vụ việc thực chất thông qua hồ sơ vụ việc và kết quả đầu ra kiểm chứng được.

Thay vì bảng kê thời gian có xác nhận của cơ quan tố tụng, hồ sơ thanh toán gồm các tài liệu mà bản thân chứng minh đã thực hiện vụ việc: Quyết định cử người thực hiện TGPL của Trung tâm; Thông báo bào chữa/bảo vệ; Biên bản làm việc trong quá trình tố tụng; biên bản phiên tòa; Bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; bản bào chữa/bảo vệ quyền lợi do chính người thực hiện TGPL soạn thảo,…

Để các chính sách, chế độ, ưu đãi nêu trên thực sự đi vào cuộc sống, không dừng lại ở quy định trên giấy, cần triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm thi hành sau:

Về thể chế, cần khẩn trương xây dựng, ban hành Nghị định quy định chi tiết và các thông tư hướng dẫn, trong đó cụ thể hóa đầy đủ các chế độ, chính sách, ưu đãi đối với Trợ giúp viên pháp lý; đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan về tiền lương, phụ cấp, chức danh nghề nghiệp, chính sách cho đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Về nguồn lực tài chính, đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ ngay trong quá trình xây dựng văn bản để bảo đảm các quy định được tính toán đầy đủ về nguồn lực.

Về tổ chức thực hiện, cần phân công rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan, của chính quyền địa phương; có lộ trình triển khai phù hợp; tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện trên phạm vi cả nước.

Về truyền thông và theo dõi, đánh giá, đề nghị tăng cường vai trò của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý trong việc theo dõi, đôn đốc, đánh giá tình hình thực hiện; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý; định kỳ sơ kết, tổng kết để kịp thời phát hiện những nội dung chưa phù hợp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho sát với thực tiễn.

Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, chuyên viên tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước là đội ngũ nòng cốt thực hiện chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho người yếu thế. Quan tâm, chăm lo, hoàn thiện chính sách, chế độ, ưu đãi đối với Trợ giúp viên pháp lý chính là đầu tư cho chất lượng và hiệu quả của chính sách trợ giúp pháp lý, là đầu tư cho công lý, cho niềm tin của Nhân dân, nhất là niềm tin của những người yếu thế vào Nhà nước và pháp luật.

Phan Ngọc Trâm

 TIN TỨC LIÊN QUAN